200m 1 nhà thuốc!

Sáng nay ngồi uống cà phê, tay lướt điện thoại, mắt vô tình dính vào một báo cáo thị trường dược phẩm Việt Nam 2024–2025. Đọc tới đoạn Long Châu đã vượt mốc 2.376 cửa hàng (mình coi cách đây 2 tuần) trên toàn quốc, mình suýt sặc cà phê. Quay sang ông bạn ngồi kế bên buột miệng:“Ủa, bộ xứ mình giờ đi đâu cũng cần uống thuốc hay sao mà nhà thuốc mọc như quán cà phê vậy trời?”

Ổng cười, bảo: “Ông làm mặt bằng thì mở đồ chơi bản đồ của ông ra coi thử đi.” Thế là mình móc luôn cái bản đồ ra soi. Và thú thực là… còn bất ngờ hơn con số 2.376 cửa hàng kia.

Trên bản đồ, lớp dữ liệu nhà thuốc phủ kín từ trung tâm thành phố tới tận huyện, thị xã. Cảm giác giống như mở Google Maps tìm quán cà phê Sài Gòn, zoom tới đâu cũng thấy logo. Trong khi đó, theo thống kê trên map của mình, cả nước hiện có khoảng gần 19.998 cơ sở y tế công lập và tư nhân, bao gồm bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế xã, phòng khám.

Nhưng điều thú vị là: các chuỗi nhà thuốc lớn lại không bao vây bệnh viện như mình từng nghĩ. Quanh bệnh viện, phần lớn nhu cầu thuốc đã được giải quyết bởi nhà thuốc kê đơn trong khuôn viên bệnh viện và hệ thống nhà thuốc truyền thống bám rễ mấy chục năm ở khu vực cổng viện. Đây là vùng cạnh tranh cực gắt, biên lợi nhuận thấp, muốn chen chân vào không hề dễ.

Thay vì lao vào vùng đỏ đó, các chuỗi lại chọn một con đường khác. Họ đánh mạnh vào khu dân cư, trục đường lớn, khu đô thị mới, nơi người dân mua thuốc cảm cúm, đau đầu, vitamin, sữa cho người già, mỹ phẩm dược, băng gạc… như một thói quen sinh hoạt hằng ngày. Nói vui cho dễ hình dung: nhà thuốc bây giờ đang đi theo mô hình “CVS của ngành sức khỏe”.

Nhìn rộng ra bức tranh toàn thị trường mới thấy vì sao cuộc đua chuỗi nhà thuốc lại nóng đến vậy. Theo IQVIA và BMI Research, quy mô thị trường dược phẩm Việt Nam năm 2024 ước đạt khoảng 7,5–8 tỷ USD và dự báo sẽ chạm mốc 10 tỷ USD vào năm 2026, tăng trưởng khoảng 11% mỗi năm. Trong đó, kênh bệnh viện vẫn chiếm phần lớn doanh thu, nhưng kênh bán lẻ đang tăng rất nhanh nhờ sự bùng nổ của các chuỗi nhà thuốc hiện đại.

Cả nước hiện có khoảng 60.000 nhà thuốc (theo Cục Quản lý Dược -Bộ Y tế), nhưng số cửa hàng thuộc chuỗi hiện đại mới chỉ vào khoảng 3.000–3.500 cửa hàng, tức chỉ chiếm 5–6%. Nghĩa là thị trường vẫn còn rất rộng, nhất là ở tỉnh, huyện, thị xã – nơi thu nhập người dân tăng lên và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.

Trong cuộc chơi này, LC đang là tay chơi đi một mình một ngựa. Theo báo cáo của FPT Retail, LC đã vượt mốc 2.300 cửa hàng và là chuỗi hiếm hoi có lãi lớn, tiếp tục mở rộng rất nhanh. Pharmacity thì đang co gọn về khoảng 900+ cửa hàng để tập trung tối ưu hiệu quả từng điểm bán. An Khang của Thế Giới Di Động cũng đang tái cơ cấu mạnh, thu hẹp về khoảng 300+ cửa hàng từ mức hơn 500 trước đó. Một số chuỗi mới cũng bắt đầu nhập cuộc, đặc biệt ở miền Tây và Nam Bộ.

Một cú hích lớn khác đến từ Luật Dược sửa đổi có hiệu lực từ 1/7/2025. Luật mới cho phép bán thuốc không kê đơn qua thương mại điện tử, với điều kiện phải có nhà thuốc vật lý, đồng thời chính thức công nhận mô hình chuỗi nhà thuốc như một loại hình kinh doanh riêng biệt. Nói nôm na, từ 2025 trở đi, nhà thuốc không chỉ bán ở quầy mà còn bán trên app, website, giao tận nhà, đúng nghĩa Omnichannel ngành dược.Nhìn từ bản đồ tới số liệu, mình mới thấy cuộc chơi chuỗi nhà thuốc ở Việt Nam thực ra không phải là câu chuyện “ai mở nhiều hơn thì thắng”, mà là câu chuyện ai hiểu thị trường hơn và chọn điểm chuẩn hơn.

Bài học đầu tiên là đừng nhìn thấy bệnh viện đông rồi nghĩ mở nhà thuốc gần đó là chắc ăn. Vùng này đã có nhà thuốc kê đơn trong bệnh viện và cả một hệ sinh thái nhà thuốc truyền thống bám rễ mấy chục năm. Chuỗi không ngu gì lao đầu vào cuộc chiến cũ kỹ đó. Họ chọn đi ra khu dân cư, nơi nhu cầu mua thuốc, vitamin, sữa, mỹ phẩm dược diễn ra mỗi ngày như một thói quen sinh hoạt.

Bài học thứ hai là mô hình nhà thuốc bây giờ không còn là tiệm bán thuốc nữa, mà là mô hình bán lẻ tiện lợi về sức khỏe. Thuốc không kê đơn chỉ là một phần, phần lớn biên lợi nhuận nằm ở thực phẩm chức năng, vitamin, mỹ phẩm dược, sản phẩm chăm sóc cá nhân. Ai xây được mô hình cửa hàng đúng hành vi tiêu dùng thì người dân tự khắc ghé đều như đi siêu thị mini.

Bài học thứ ba là cuộc đua chuỗi thực chất là cuộc đua về hệ thống. Từ chọn mặt bằng, thiết kế cửa hàng, vận hành, công nghệ, tới bán hàng online -offline. Mở nhanh mà không có mô hình chuẩn thì càng mở càng mệt. Mở chậm nhưng chắc, mỗi cửa hàng đều có lãi, mới là nền tảng để đi đường dài.

Và bài học cuối cùng: thị trường vẫn còn rất rộng. 60.000 nhà thuốc nhưng chuỗi mới chỉ chiếm khoảng 5–6%. Nghĩa là cuộc chơi chỉ mới bắt đầu, và không bất ngờ khi các ông lớn đang từng bước gặm nhấm miếng bánh.

Tới đây tự nhiên nhớ đến câu nói của bác giám đốc cũ của tôi cách đây 10 năm rằng “Khoảng 10 năm sau các cửa hàng tiện lợi sẽ thay thế cửa hàng tạp hoá” và giờ nó đang diễn ra. Tôi nghĩ thị trường nhà thuốc cũng thế.

Minh Phan – Site Plus | Chọn đúng mặt bằng.

Một vài chia sẻ về mặt bằng khi mở cửa hàng kinh doanh:

1. Những mặt bằng “trông có vẻ ổn” chính là thứ làm bạn lỗ, chứ không phải mấy căn quá xấu.

2. Đừng đi xem mặt bằng mà không có sẵn tiền đặt cọc – thấy căn phù hợp mà không giữ được là mất luôn cơ hội.

3. Trước khi thuê, hỏi 1 câu: mở ở đây có giúp mình tiết kiệm chi phí marketing không?

4. Vốn chưa mạnh thì đừng ham mặt tiền hoành tráng – tiền thuê cao sẽ ép bạn sống trong áp lực mỗi ngày.

5. Giá thuê không tự nhiên cao, nó được ngụy trang bằng “vị trí đẹp”, “khu sầm uất” và “sắp lên giá”.

6. Đừng vì ngại mà không mặc cả – ngại hỏi giá thật là cái lỗ lịch sự nhất.

7. Thuê mặt bằng “để làm lâu dài” nhưng không đo lưu lượng = rủi ro được ngụy trang.

8. Môi giới nói “căn này nhiều người hỏi lắm” chỉ có giá trị khi bạn thấy khách ngoài đời thật.

9. Mặt bằng không làm bạn giàu lên mỗi ngày, nhưng có thể làm bạn lỗ rất đều nếu chọn sai.

10. Trả tiền cho vị trí tốt là hợp lý, trả tiền vì tin lời cảm giác là tốn kém.

11. Nếu một mặt bằng khiến bạn phải “tự trấn an” sau khi cọc, khả năng cao là đã chọn sai.

12. Không phải căn nào rẻ cũng là lời, có những căn càng rẻ càng tốn tiền sửa.

13. Vốn ít mà thuê mặt bằng lớn thì rất mệt, vốn ít mà thuê vừa sức thì vẫn sống khoẻ.

14. Thứ làm bạn chọn sai mặt bằng nhiều nhất không phải số liệu, mà là cảm xúc nhất thời.

15. Khi đặt cọc, ghi rõ điều kiện hoàn cọc – dù quen cũng phải rõ ràng.

16. Trước khi ký hợp đồng, đặt sẵn giới hạn tiền thuê theo tháng, đừng quyết tại bàn đàm phán.

17. Thuê mặt bằng đắt tiền, lưu lại toàn bộ trao đổi với chủ nhà – sau này còn có cái mà đối chiếu.

18. Nhận bản vẽ hiện trạng thì đo lại ngay tại chỗ, đừng về rồi mới phát hiện sai diện tích.

19. Trước khi chuyển tiền cọc, đọc lại tên chủ nhà, nhầm là coi như đi tìm… chủ khác.

20. Thuê dài hạn, nhớ hỏi rõ lộ trình tăng giá, đừng để đến năm sau mới “ngã ngửa”.

21. Đi khảo sát nhóm thì tổng hợp dữ liệu ngay trong ngày, để lâu là quên hết cảm giác thật.

22. Tiền lời cửa hàng đầu, đừng gộp chung vào tiền mở cửa hàng thứ hai, dễ quyết sai.

23. Khi so sánh mặt bằng, nhớ tính cả chi phí sửa chữa – nhiều căn rẻ tiền thuê nhưng đắt tiền cải tạo.

24. Làm việc với môi giới thì ghi rõ vai trò và phí, sau này khỏi phải “nói lại từ đầu”.

25. Gửi thông tin mặt bằng cho team thì tách riêng: vị trí – giá – diện tích – pháp lý, để mọi người xem cho nhanh.

26. Đi xem mặt bằng thì chụp lại đầy đủ mặt tiền, xung quanh, đối diện – về nhà mới phân tích được.

27. Đi ăn gần khu vực dự định mở cửa hàng, tự quan sát xem khách đi đâu, đừng chỉ tin bản đồ.

28. Những mặt bằng “chỉ cần sửa chút xíu”, gom lại cuối ngày xem thử cần bao nhiêu tiền thật.

29. Khi đặt cọc qua chuyển khoản, kiểm tra lại số tiền và nội dung ngay lúc đó.

30. Và nhớ là chọn mặt bằng như bắt chuyến tàu,lỡ chuyến này ta đi chuyến khác.Cố gắng đừng để lên sai chuyến rồi đi luôn.

4 chữ T trong chọn mặt bằng

Cuối tuần rồi vừa kết thúc lớp KHS0, thì mình nhận được một tin nhắn từ người bạn gửi có một bên đào tạo khác đang dùng công thức 4T mà không nhắc nguồn. Nghe xong mình không buồn, mà thấy vui. Vui vì những gì từng đúc kết từ va vấp thực tế, từ những lần chọn sai trả giá bằng tiền thật, hoá ra cũng đang giúp thêm nhiều người mở cửa hàng đỡ rủi ro hơn. Và mình càng thấy quyết định mấy năm trước ngồi xuống hệ thống lại quy trình tìm kiếm – đánh giá mặt bằng thành một khung rõ ràng là một quyết định đúng, dù lúc đó chỉ nghĩ đơn giản là muốn người sau đỡ vấp như mình.

Nhưng mình luôn nghĩ một điều rất rõ: 4T chưa bao giờ sinh ra để chọn mặt bằng thay ai cả, nó chỉ giúp mình không chọn nhầm.

Nhiều anh chị mở quán lần đầu hay lo: “Em sợ theo framework quá thì bị cứng, mất cảm giác.” Nỗi lo đó rất thật. Nhưng làm nhiều dự án rồi mình mới nhận ra framework không làm mất cảm giác, mà giúp mình hiểu rõ cảm giác đó đang dựa trên điều gì. Thực ra 4T chỉ là cách nhìn hành trình khách hàng ngoài đời thật, giống hệt một cái phễu từ ngoài đường bước dần vào cửa hàng. Nó chạy theo một mạch:

1. Tập trung – khu này có đủ khách tiềm năng không, bao nhiêu người đi ngang, bao nhiêu người ở gần, bao nhiêu người chủ động tìm đến. Nếu ngay từ đầu phễu đã ít khách thì phía dưới làm tốt mấy cũng rất khó cứu.

2. Tầm nhìn – trong số khách đó họ có nhìn thấy cửa hàng. Mặt tiền có rõ không, bảng hiệu có bị che không, dòng xe có lướt qua đủ lâu để nhận diện không. Rất nhiều chỗ đông người nhưng khách… không hề thấy quán.

3. Tiếp cận – bao nhiêu người có thể ghé vào. Có dễ tấp xe không, có chỗ đậu không, có bị dải phân cách hay vật cản chặn lối vào không. Nhiều mặt bằng nhìn rất đẹp nhưng chết ở chỗ khách thấy mà không vào được.

4. Tính chất mặt bằng – không gian có thuận cho bán hàng không, bố trí có trơn tru không, khách có ở lại đủ lâu để mua không, tỷ lệ chuyển đổi thực tế ra sao. Đây là đáy phễu tạo ra doanh thu thật.

Nếu nhìn vậy sẽ thấy 4T không phải lý thuyết gì cao siêu, nó chỉ mô phỏng đúng hành trình: có khách → khách thấy → khách vào → khách mua.

Trước đây khi chưa có khung rõ ràng, rất nhiều quyết định chỉ gói gọn trong một câu “thấy căn này được”, mà chữ “thấy” thường trộn đủ thứ: chút dữ liệu, chút hy vọng, lời môi giới và cả áp lực sợ mất căn đẹp. 4T chỉ giúp tách từng lớp đó ra để nhìn cho rõ hơn, và điều thú vị là nhiều người sau khi phân tích xong lại tự nói “thôi để em bỏ căn này”, không phải vì ai ép mà vì họ đã nhìn thấy những rủi ro trước đó cảm giác che mất.

Mình luôn nghĩ mở cửa hàng không cần quá giỏi ngay từ đầu, chỉ cần đủ tỉnh để tránh những cú sai quá đắt. Framework không giúp chắc thắng, nhưng giúp bớt liều. Và với mình, như vậy đã là quá quý rồi.

Doanh số ổn chưa bao giờ là tín hiệu nên mở thêm cửa hàng.

Mấy hôm trước, tôi gặp hai vợ chồng người em mở quán cà phê được hơn 8 tháng. Quán vận hành tạm ổn, doanh số cũng bắt đầu vào guồng nên hai em nói với tôi một câu rất quen: “Giờ tụi em tính mở thêm cửa hàng nữa.” Do mấy tuần rồi tôi di chuyển liên tục nên anh em hẹn mãi mới gặp. Ngồi nói chuyện với nhau chừng hơn tiếng, tôi không phân tích bảng biểu, cũng không khuyên nên hay không nên mở, chỉ hỏi vài câu rất đơn giản: khách hàng của em chính là ai? nếu mở thêm lúc này thì hai em đang mạnh nhất ở điểm nào? và cửa hàng hiện tại còn dư địa gì chưa làm tới?

Kết thúc buổi gặp hai em tự im lặng vài phút rồi cười và nói: “Thôi chắc tụi em chưa mở vội, tập trung đẩy cửa hàng này cho mạnh hẳn đã.” Khoảnh khắc đó làm tôi thấy rất quen, quen như câu chuyện gần một năm trước khi tôi bắt đầu đồng hành cùng vợ chồng anh chị bên Nhất Quê.

Ngày đầu gặp, anh chị đã có hai cửa hàng. Là người làm nghề giò chả truyền thống nên suy nghĩ rất thật và rất nghề: muốn bán được nhiều giò chả hơn thì mở thêm quán bánh cuốn để kéo tiêu thụ. Mọi thứ được làm bằng kinh nghiệm, bằng sự chăm chỉ và bằng niềm tin của người trong nghề. Nhưng khi team vào đồng hành sâu hơn, bóc từng con số ra mới thấy hệ thống đang khá phân mảnh, doanh thu có nhưng chi phí không rõ. Nếu tính đúng và đủ cả công sức của hai anh chị bỏ ra thì gần như chỉ huề vốn. Tôi đã nói một quyết định lúc đó không dễ nghe: đóng hai cửa hàng cũ và làm lại từ đầu một cửa hàng mới tại 135 Hoàng Diệu.

Gần một năm qua, cả team cùng anh chị chọn lại điểm bán cho kỹ hơn, đo lại dòng khách, làm rõ số liệu, tối ưu menu, tối ưu vận hành và chỉnh từng chi phí nhỏ. Kết quả đến hôm nay là doanh thu đã x2, lợi nhuận tăng lên nhiều lần 😁 nhưng điều làm tôi vui nhất không phải con số, mà là thấy rõ anh chị đã “lên trình”, biết nhìn số, biết đọc hiệu quả và con đường phía trước trở nên rõ ràng hơn rất nhiều.

Với tôi, đồng hành chưa bao giờ là làm thay, mà chỉ là cùng học, cùng làm, cùng sửa và cùng phát triển, mỗi người làm đúng năng lực và sở trường của mình. Càng đi lâu trong hành trình mở cửa hàng, tôi càng tin rằng giai đoạn này và cả giai đoạn sau nữa, người đi xa không phải là người mở nhiều nhất, mà là người mở chắc nhất. Hiệu quả quan trọng hơn số lượng, đi chậm nhưng vững còn hơn mở nhanh rồi phải quay lại sửa từ đầu.

“Làm F&B mà không biết tối ưu nhân sự là chết.”

Nghe câu này từ một clip của một anh “thầy”…mình đang ngồi ăn bánh cuốn mà tự nhiên thấy nghẹn, không phải vì sai mà vì nó đúng… nhưng đúng ở một thế giới khác. Thế giới của những chuỗi lớn, nơi có phòng HR tuyển người, có quy trình dựng sẵn, có data để tính từng khung giờ. Còn ngoài kia, những chủ quán nhỏ như anh em mình thì thiếu người là tự chạy ra bán, nhân viên nghỉ là tự đứng bếp, có khi mang cả con ra quán ăn ngủ luôn ở đó. Tuyển một người có khi mất cả tháng chưa chắc có, giữ được người còn khó hơn, nên nói thật nghe mấy câu kiểu “tối ưu nhân sự” có mà tối bằng mắt.

Mình không phủ nhận kiến thức, nhưng nhiều khi thấy buồn cười là những người đó đã từng mở quán, đứng bán một ngày cho ra hồn lại nói chuyện như thể đang dạy người khác cách vận hành. Anh đã từng trải qua cảm giác khách đứng kín quán, bếp làm không kịp, Grab đứng ngoài chửi vì trễ đơn, nhân viên nghỉ ngang không báo, chủ quán phải lao ra làm hết chưa? Hay là cái cảm giác tối hôm qua thôi, một chị mình đang hỗ trợ gọi điện, giọng gần như sắp khóc vì công an với đô thị xuống dẹp, đông quá, hoảng quá không biết xử lý sao. Những thứ đó không có trong slide, không có trong giáo trình, nhưng lại là thứ anh em mình phải đối diện mỗi ngày.

Ngay cả team mình đang làm, gọi là “đội phản ứng nhanh”, nghe thì có vẻ bài bản nhưng thực chất là có chuyện gì gấp là lao ra xử lý, từ chuyện bị dẹp xe, CA, hàng xóm… Đó mới là đời thật của F&B. Nên nhiều khi nói “tối ưu nhân sự” trong giai đoạn đó không khác gì bảo một người đang đuối nước hãy bơi đẹp hơn. Không phải anh em mình không muốn chuẩn, mà là chưa đủ lực để chuẩn, không phải không muốn tối ưu, mà là còn chưa đủ người để mà tối ưu.

Tuần trước mình đi học có gặp một người em, bạn nói trước em học một bên xong về bê nguyên bộ quy trình của tập đoàn áp vào quán nhỏ, kết quả là nhân sự không đủ, vận hành rối, bản thân thì kiệt sức và Tết rồi bạn còn phải bế cả con nhỏ lên cửa hàng để bán hàng. Lúc đó mới thấy rõ một điều là không phải cái gì đúng cũng đúng với mình ở thời điểm này. Với chủ quán F&B, đặc biệt là giai đoạn đầu, thứ quan trọng nhất không phải là tối ưu mà là sống sót. Hôm nay bán được chưa, ngày mai còn đủ người đứng quán không, tuần sau còn trụ nổi không. Làm được rồi hãy làm tốt, sống được rồi hãy tối ưu.

Nên nếu anh em đang trong giai đoạn khó, đừng áp lực vì mấy cái gọi là “chuẩn chỉnh”. Học thì vẫn nên học, nhưng phải biết chắt lọc và nhìn vào nguồn lực của mình để áp dụng. Chứ không phải nghe thầy nói gì cũng làm theo, áp một cách mù quáng rồi cuối cùng cái mất không phải là chưa tối ưu mà là đóng cửa. Kinh doanh F&B nó không nằm trên slide, nó nằm ở những ngày mệt đến mức ăn không kịp nuốt, ở những lúc chạy không kịp thở, và ở những tình huống mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu. Anh em mình đi qua được giai đoạn đó đã là một dạng “tối ưu” rồi, không phải tối ưu chi phí mà là tối ưu khả năng chịu đựng.Chúc bạn luôn bền chí trên hành trình kinh doanh.

CHÉN XÍU MẠI 25K VÀ VỈA HÈ…

Hôm qua đi thị trường ngang đường Nguyễn Thị Thập thì ghé vào một quán nhỏ bán xíu mại chén. Ban đầu cũng chỉ nghĩ đơn giản là ghé ăn thử thôi, nhưng càng ngồi quan sát thì lại càng thấy thú vị. Và nhiều khi chính những buổi đi thực địa như vậy mới giúp mình hiểu được vì sao có những quán rất nhỏ nhưng lại bán rất tốt.

Quán này menu cực kỳ đơn giản. Gần như chỉ bán đúng một món là xíu mại chén 25k và bánh mì 5k. Hết. Nhưng phía menu nước thì lại khá nhiều, từ đậu nành tới các loại nước mát, giá khoảng 20–35k. Ngồi nhìn một lúc là hiểu ngay logic vận hành của quán này: giữ món ăn thật đơn giản để bếp chạy nhanh, còn phần kéo lợi nhuận nằm ở đồ uống.

Thật ra đây là một logic rất phổ biến trong ngành F&B hiện nay. Theo số liệu từ iPOS và nhiều chuỗi F&B mình từng làm việc cùng, biên lợi nhuận gộp của món ăn thường chỉ dao động khoảng 55–65%, nhưng đồ uống có thể lên tới 70–85%, đặc biệt là những mô hình nước tự nấu như đậu nành, trà hay nước mát. Nghĩa là nếu một khách gọi thêm một ly nước 25k thì nhiều khi lợi nhuận còn tốt hơn cả một phần ăn.

Chưa kể khi menu càng ít thì:

– tốc độ ra món nhanh hơn,

– tồn kho ít hơn,

– nhân sự bếp gọn hơn,

– tỷ lệ sai món cũng thấp hơn.

Ví dụ một quán bán 30–40 món sẽ cần lượng nguyên liệu rất lớn, tủ lạnh lớn hơn, bếp phức tạp hơn và tỷ lệ thất thoát cũng cao hơn. Còn những mô hình kiểu “1 món signature” như vậy thì gần như mọi thứ đều được tối ưu để xoay vòng thật nhanh.

Cái mình thích nhất là cảm giác “dễ ghé”. Không gian nhỏ, bàn thấp thấp khoảng 45cm, ghế đẩu ngồi sát nhau tạo cảm giác đông vui. Nhiều quán bây giờ làm rất đẹp nhưng khách bước vô lại hơi ngại. Còn quán kiểu này thì nhìn là muốn ngồi xuống ăn ngay.

Và thật ra để nhìn ra được những thứ đó thì bắt buộc phải đi thực tế.

Trong nghề phát triển mặt bằng tụi mình hay nói vui là có “bài toán đi bộ”. Tức là muốn hiểu thị trường thì phải đi bộ, phải đứng quan sát và cảm nhận nhịp thật của khu vực đó. Nhiều người bây giờ chỉ xem Google Maps, xem review hay xem hình trên mạng rồi nghĩ là đã hiểu thị trường, nhưng thật ra không đâu.

Có những thứ chỉ khi xuống thực địa mới thấy được:

– khách tới là ai,

– khách đi xe máy hay ô tô,

– shipper đứng có đông không,

– khách ngồi bao lâu,

– quán đông thật hay chỉ đông theo giờ,

– người ta mua mang đi hay ngồi lại,

– dòng xe có thuận để ghé vào không.

Ví dụ cùng một con đường nhưng có những bên đường lượng khách vào khác nhau hoàn toàn chỉ vì hướng chạy xe hoặc thói quen dừng đỗ. Những thứ đó ngồi trên máy tính gần như không cảm được.

Và cũng nhờ đi thực địa như vậy mới thấy một điều khá rõ: mô hình F&B vỉa hè ở Việt Nam thực sự rất mạnh.

Theo báo cáo của iPOS năm 2025, hơn 80% cơ sở F&B tại Việt Nam hiện nay vẫn là mô hình nhỏ lẻ và độc lập. Phần lớn trong số đó là quán vỉa hè, kiosk nhỏ hoặc cửa hàng diện tích dưới 50m2. Đây chính là nhóm tạo ra “màu sắc” lớn nhất cho ngành ăn uống Việt Nam.

Thật ra văn hóa vỉa hè ở Việt Nam là một thứ rất đặc biệt. Người Việt mình gần như ai cũng quen với cảnh ngồi ghế nhựa sát lề đường, ăn tô bún, ổ bánh mì hay chén xíu mại rồi nhìn dòng người chạy qua lại. Nó không chỉ là chuyện ăn uống nữa mà nhiều khi đã trở thành một phần văn hóa sống và văn hóa đô thị.

Nhưng thời gian tới chắc chắn câu chuyện quản lý vỉa hè sẽ thay đổi khá nhiều khi các chính sách bắt đầu siết mạnh hơn. Thật lòng mà nói thì trong lòng mình cũng hơi lăn tăn, không biết rồi những mô hình nhỏ như vậy sẽ đi đâu về đâu. Vì phía sau mỗi quán nhỏ thật ra là một câu chuyện mưu sinh, là cả một gia đình và cũng là giấc mơ kinh doanh của rất nhiều người.

Mình hiểu việc quản lý đô thị là cần thiết, nhưng cũng hy vọng sẽ có những hướng xử lý phù hợp hơn để vừa đảm bảo trật tự đô thị, vừa giữ được phần nào cái chất rất riêng của ngành F&B Việt Nam. Vì nhiều khi chính những quán nhỏ ven đường như vậy mới là thứ tạo ra sức sống cho một thành phố.

Minh Phan – Chọn đúng mặt bằng

ĐÔNG ĐÚC # TIỀM NĂNG

(Series: Bí mật những cửa hàng ven đường)

Có một hiểu lầm mà mình thấy rất nhiều chủ quán,kể cả những người đã mở vài cửa hàng vẫn mắc phải: cứ đường lớn, xe đông, nhiều người đi qua thì kiểu gì cũng bán được.

Ngày trước mình cũng từng nghĩ đơn giản như vậy. Cho tới khi đi cùng một anh chủ chuỗi khảo sát mặt bằng trên một trục đường rất đẹp ở TP.HCM. Traffic cực lớn, xe chạy liên tục, nhìn bằng mắt thường ai cũng thấy “đỉnh”. Anh ấy gần như muốn chốt ngay vì cảm giác đây là vị trí vàng. Nhưng khi đứng lại lâu hơn một chút, quan sát kỹ hơn, mình mới thấy một điều ngược lại: xe chạy nhanh, dòng di chuyển liên tục, rất ít xe giảm tốc. Muốn rẽ vào thì phải thắng gấp, mà lối vào lại hơi hẹp. Nghĩa là… nhìn thấy nhưng không dễ ghé.

Cuối cùng, bên mình khuyên dừng lại. Lúc đó anh chủ còn tiếc lắm. Nhưng vài tháng sau, mặt bằng đó có người vào thuê rồi đóng cửa khá nhanh. Không phải họ làm dở. Chỉ là ngay từ đầu họ đã đặt cược vào thứ không phải là lợi thế thật.

Mình nhận ra một điều: traffic đông chỉ là điều kiện cần. Còn điều kiện đủ là khách có muốn và dám rẽ vào hay không.

Nhiều người mở quán nhìn mặt bằng như nhìn một tấm hình tĩnh: đông người, mặt tiền lớn, thương hiệu đẹp là yên tâm. Nhưng thực tế, cửa hàng ven đường là một bối cảnh động. Người lái xe chỉ có vài giây để quan sát, hiểu, quyết định. Chỉ cần một cảm giác bất tiện nhỏ như khó rẽ, khó dừng, sợ kẹt xe phía sau là quyết định đó biến mất ngay lập tức.

Mình từng thấy không ít case tương tự trong quá trình đồng hành với các chủ doanh nghiệp. Có những mặt bằng nhìn qua tưởng không có gì đặc biệt, nhưng vì vào dễ, đỗ thuận tiện, ra thoải mái nên khách tự nhiên ghé nhiều. Ngược lại, có những vị trí ai cũng khen đẹp nhưng lại âm thầm thất thoát khách mỗi ngày mà chủ quán không hiểu vì sao.

Đó là lý do mình luôn nói: cửa hàng ven đường không bán cà phê, không bán sản phẩm mà nó đang bán một quyết định rẽ lái trong vài giây ngắn ngủi.

Và khi nhìn lại, mình thấy nhiều quyết định sai không đến từ việc thiếu tiền hay thiếu kinh nghiệm, mà đến từ việc chúng ta nhìn sai bản chất của vị trí.

Bài này chỉ là phần mở đầu của series về cửa hàng ven đường. Ở bài tiếp theo, mình sẽ nói sâu hơn về một thứ rất nhiều người bỏ qua nhưng lại quyết định 70% khả năng sống còn của điểm bán: khách nhìn thấy bạn… nhưng liệu họ có thật sự ghé được hay không? Đây cũng là công việc mình cùng các chủ doanh nghiệp phân tích dữ liệu, hành vi khách hàng và thực tế vận hành trước khi đưa ra quyết định cuối trong gói huấn luyện & đồng hành mở điểm với mục tiêu rất đơn giản: giảm rủi ro sai ngay từ bước chọn điểm.

Bài tiếp theo mình sẽ nói về một điều rất thú vị: nhiều cửa hàng thất bại không phải vì khách không thấy… mà vì khách thấy nhưng không thể ghé.

CẠNH và TRANH

Nhiều anh em khi dự báo doanh thu thường nhìn vào một thứ rất dễ thấy: lưu lượng người qua lại. Đông xe, đông người là nghĩ chắc bán tốt. Nhưng sau nhiều năm đi khảo sát và mở điểm cùng khách hàng, mình thấy có một biến số mà nếu hiểu sai thì toàn bộ dự báo gần như lệch ngay từ đầu-đó là cạnh tranh.

Điều thú vị là cạnh tranh không chỉ là chuyện có bao nhiêu đối thủ đứng quanh mình. Cạnh tranh thực chất là câu chuyện về hành vi lựa chọn của khách hàng. Khách có thể bỏ quán mình không phải vì quán bên cạnh ngon hơn, mà vì họ thấy một lựa chọn khác tiện hơn, quen hơn, hoặc đơn giản là… đang nằm trong “dòng chảy” họ đi mỗi ngày.

Nhiều người hay nhìn cạnh tranh theo nghĩa rất hẹp: ai bán cùng ngành với mình thì mới là đối thủ. Nhưng thực tế lại rộng hơn nhiều. Một quán cà phê ở Việt Nam hôm nay không chỉ cạnh tranh với quán cà phê khác, mà còn với trà sữa, cửa hàng tiện lợi có đồ uống mang đi, thậm chí là một tiệm bánh có chỗ ngồi đẹp. Vì cuối cùng khách không mua “cà phê”, khách mua trải nghiệm hoặc nhu cầu ngay lúc đó. Có ngành ranh giới rất rõ, nhưng cũng có ngành mà ranh giới gần như mờ hoàn toàn. Nếu nhìn sai phạm vi, dự báo doanh thu gần như chắc chắn bị ảo.

Một điều mình thấy nhiều người mới mở cửa hàng hiểu sai là: cứ gần đối thủ là xấu. Thực tế thị trường lại vận hành khá ngược đời. Trong kinh tế học có mô hình nói rằng nhiều cửa hàng có xu hướng đứng gần nhau vì người bán muốn tối ưu thị phần hiện tượng này gọi là cạnh tranh vị trí. Nếu để ý ở Việt Nam, những con đường tập trung nhiều quán cà phê, nhiều quán ăn, hay những cụm dịch vụ dày đặc thường lại rất đông khách. Lý do đơn giản: khách thích tới nơi có nhiều lựa chọn hơn. Các nghiên cứu về hiện tượng nhiều cửa hàng cùng ngành hoặc liên quan tập trung lại trong một khu vực cũng cho thấy khi các cửa hàng tập trung lại, thường xuất hiện hiệu ứng lan tỏa tích cực, giúp hiệu suất chung của cả khu tăng lên. Nói đơn giản là: Một quán cà phê đứng một mình → khách phải có lý do mới ghé.Một cụm 10 quán cà phê → bản thân khu đó trở thành điểm đến.

Theo ngôn ngữ đời thường: đối thủ đôi khi không lấy khách của mình, mà họ đang kéo khách về khu cho mình.

Điều này đặc biệt rõ ở thị trường Việt Nam. Ví dụ ngành cà phê đang tiếp tục mở rộng mạnh. Một số báo cáo gần đây cho thấy thị trường cà phê Việt Nam vẫn tăng trưởng đều, với CAGR khoảng 6–8% giai đoạn tới và mô hình cửa hàng ngồi uống tại quán là một trong những kênh tăng nhanh nhất. Khi thị trường còn đang lớn lên, sự xuất hiện của nhiều thương hiệu thực chất đang mở rộng “chiếc bánh” chứ chưa phải chia nhỏ ngay lập tức. Đó là lý do vì sao nhiều chuỗi chọn chiến lược phủ cụm thay vì né nhau.

Nhưng mặt còn lại cũng phải nói rõ. Khi thị trường đã bão hòa, quy mô khách không còn tăng nữa, thì mỗi cửa hàng mới mở ra gần như là một phần doanh số bị chia. Lúc này, nếu mình chỉ đếm số lượng đối thủ là chưa đủ. Điều mình luôn làm là nhìn thêm một lớp: chất lượng đối thủ. Một đối thủ yếu, thương hiệu không mạnh, dịch vụ kém đôi khi gần như không ảnh hưởng. Ngược lại, chỉ một thương hiệu mạnh đặt cạnh thôi cũng có thể làm dự toán giảm đáng kể.

Trong các mô hình nghiên cứu về cạnh tranh không gian, doanh số của cửa hàng thường bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính: khoảng cách và mức độ hấp dẫn của đối thủ. Nói đơn giản: càng gần và càng mạnh thì lực hút càng cao. Đây là thứ anh em mở cửa hàng ở Việt Nam hay bỏ qua vì thường chỉ nhìn khoảng cách mà quên mất “sức nặng thương hiệu”.

Bài học mình rút ra sau nhiều case thực tế là: khi đi khảo sát mặt bằng, đừng hỏi “ở đây có bao nhiêu đối thủ?”, mà hỏi “khách đến đây vì lý do gì, họ có bao nhiêu lựa chọn, và mình đứng ở vị trí nào trong đầu họ?”. Khi trả lời được câu đó, dự toán tự nhiên sẽ thực tế hơn rất nhiều.

Và một điều nữa rất quan trọng, đặc biệt với anh em mở cửa hàng ở Việt Nam: cạnh tranh không phải thứ cần né. Nó là dữ liệu để mình đọc thị trường. Nếu khu đó đã có nhiều thương hiệu và vẫn tiếp tục mở thêm, nhiều khi đó không phải dấu hiệu nguy hiểm mà là tín hiệu cho thấy khu đó đang có dòng khách đủ lớn.

Cuối cùng, cạnh tranh chỉ là một biến trong toàn bộ bài toán doanh thu. Nó luôn phải đi cùng vị trí, mô hình cửa hàng, mức giá, sản phẩm và cách vận hành. Nhưng nếu hiểu đúng về cạnh tranh cả phạm vi, chất lượng và tác động hai chiều của nó anh em sẽ tránh được cái bẫy rất phổ biến: mở ở nơi “ít đối thủ” rồi mới phát hiện ra lý do thật sự là… không có thị trường.

Mình vẫn hay nói với team một câu rất đơn giản: không phải ai né được đối thủ là thắng, mà là ai hiểu được dòng chảy cạnh tranh thì người đó dự báo sát hơn và mở cửa hàng nhẹ đầu hơn rất nhiều.

KHÁCH HÀNG CHỌN DỄ

(Series: Bí mật những cửa hàng ven đường)

Sau bài trước, nhiều anh em nhắn mình một câu rất thú vị: “Nếu khách đã nhìn thấy quán rồi, sao lại không vào?”. Nghe thì đơn giản, nhưng đây chính là điểm mà phần lớn người mở cửa hàng đang hiểu sai.

Mình kể lại một case thực tế mà mình và bạn đã từng trao đổi. Một mặt bằng nằm ngay trục đường lớn, xe cực đông, biển hiệu rõ, nhìn bên ngoài ai cũng nghĩ đây là vị trí đẹp. Chủ quán tin rằng chỉ cần đặt bảng thật to là khách sẽ ghé. Nhưng khi đứng quan sát lâu hơn, mình thấy một điều khác hẳn: gần như không có xe giảm tốc. Họ nhìn thấy, rồi đi luôn.

Vấn đề không nằm ở mặt bằng. Vấn đề nằm ở não người lái xe.

Khi con người đang lái xe, bộ não phải xử lý rất nhiều việc cùng lúc: giữ khoảng cách, quan sát xe khác, đọc biển báo, xử lý hướng đi. Các nghiên cứu về hành vi lái xe cho thấy khi lượng thông tin quá nhiều trong thời gian ngắn, người lái dễ rơi vào trạng thái “quá tải thông tin”, dẫn đến quyết định nhanh, bỏ qua hoặc làm thao tác an toàn hơn thay vì thử điều mới.

Nói đơn giản: não người luôn ưu tiên an toàn và dễ dàng, không ưu tiên tò mò.

Nhiều người mở quán đang nhìn mặt bằng theo góc nhìn của người đứng yên:

– thấy rõ

– mặt tiền lớn

– đường đông

Nhưng người lái xe lại ở trong trạng thái khác hoàn toàn. Họ đang chịu áp lực thời gian và phải xử lý nhiều tác vụ đồng thời. Các nghiên cứu về hành vi giao thông chỉ ra rằng khi phải ra quyết định trong khoảng thời gian giới hạn, con người thường chọn phương án ít rủi ro nhất nghĩa là… đi tiếp.

Đó là lý do mình hay nói: cửa hàng ven đường không chỉ là bài toán marketing, nó là bài toán tải nhận thức (cognitive load).

Nếu muốn ghé quán bạn, khách phải làm 3 việc liên tiếp:

– Nhìn thấy

– Hiểu được cách vào

– Cảm thấy đủ an toàn để rẽ

Chỉ cần một bước khiến họ phải suy nghĩ thêm,ví dụ lối vào hẹp, góc rẽ khó, xe phía sau chạy nhanh thì bộ não sẽ tự động chọn giải pháp đơn giản hơn: bỏ qua.

Đây là điều mình đã thấy lặp lại rất nhiều khi đồng hành cùng các chủ doanh nghiệp. Có những mặt bằng nhìn không nổi bật, nhưng vì vào dễ, ra dễ nên khách tự nhiên ghé. Ngược lại, có những nơi ai cũng khen đẹp nhưng âm thầm mất khách mỗi ngày, vì khách thấy mà… không dám ghé.

Điều phản tư lớn nhất mình rút ra sau nhiều năm làm mặt bằng là: chúng ta thường đánh giá điểm bán bằng mắt của người làm kinh doanh, nhưng khách hàng lại quyết định bằng cảm giác của người đang di chuyển.Và cảm giác đó mang tính sinh học, không phải cảm tính.

Minh Phan – Chọn đúng mặt bằng

VÀO – ĐỖ – RA

(Series: Bí mật những cửa hàng ven đường)

Nếu ai đã đi cùng mình khảo sát mặt bằng ngoài thực tế, anh em sẽ nghe mình lặp đi lặp lại một câu: cửa hàng ven đường chỉ có 3 thứ phải làm cho đúng là: Vào được, Đỗ được, Ra được.

Nghe rất đơn giản. Nhưng càng đi nhiều, mình càng thấy đây là thứ bị xem nhẹ nhất.

Có lần mình đi khảo sát cùng một chủ doanh nghiệp chuẩn bị mở điểm mới. Mặt bằng đẹp, đường lớn, traffic tốt, phía trước nhìn rất thoáng. Nhưng khi đứng quan sát dòng xe một lúc, mình thấy một chuyện rất nhỏ: xe muốn vào phải giảm tốc mạnh, phía sau liên tục có xe chạy nhanh. Nghĩa là người lái phải “liều” một chút mới tấp vào được. Anh chủ lúc đó nói: “Chắc không sao đâu anh, quen rồi khách sẽ vào”. Nhưng mình lại nghĩ khác, khách mới mới là thứ quyết định tăng trưởng, còn nếu chỉ trông chờ khách quen thì cửa hàng rất khó bật lên.

Đi sâu hơn một chút, mình chia sẻ góc nhìn mà mình thường dùng khi đánh giá điểm ven đường:

#1. VÀO – Có dễ quyết định hay không?

Không phải “có lối vào” là đủ.Câu hỏi đúng là:Người lái xe có cảm thấy an toàn khi rẽ vào không?Nếu phải thắng gấp, rẽ gắt, hoặc sợ xe phía sau bóp còi thì não sẽ tự động chọn giải pháp an toàn: đi tiếp. Đây là phản ứng rất tự nhiên của con người khi đang di chuyển. Họ không muốn tạo thêm rủi ro chỉ để thử một quán mới.Thực tế mình thấy nhiều cửa hàng tưởng như đẹp nhưng lại đặt khách vào một quyết định quá khó trong vài giây ngắn ngủi.

#2. ĐỖ – Có khiến khách thấy thoải mái không?

Nhiều người nghĩ bãi xe chỉ là phần phụ. Nhưng thật ra đây là điểm khách cảm nhận rõ nhất.Trong mở cửa hàng, tỷ lệ giữa chỗ ngồi và chỗ đậu xe luôn được xem là một yếu tố rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm khách hàng.Mình thường phản biện lại một suy nghĩ sai: “Thiếu chỗ đậu thì khách tự tìm cách”. Không hẳn.

Khách hàng ngày càng ít kiên nhẫn. Nếu phải loay hoay tìm chỗ dựng xe, cảm xúc ngay từ đầu đã giảm xuống. Và cảm xúc ban đầu ảnh hưởng rất mạnh tới việc họ có quay lại hay không.

#3. RA – Phần nhiều người quên nhất

Điều thú vị là khi khảo sát, hầu như ai cũng nhìn lối vào. Nhưng rất ít người để ý lối ra.Tại sao? Vì lúc khảo sát mình đang đứng ngoài nhìn vào. Nhưng khách thì đang nghĩ: “Ăn xong rồi mình ra có dễ không?”. Nếu ra khó, phải chờ lâu, phải quay đầu nguy hiểm, ảnh hưởng trải nghiệm tổng thể bị trừ điểm ngay.

Một cửa hàng tốt không phải chỉ dễ vào, mà còn phải cho khách cảm giác: ghé nhanh – đi nhanh – không phiền.

Sau nhiều năm làm mặt bằng, mình nhận ra một điều khá đau: nhiều chủ quán đầu tư rất nhiều cho thiết kế, marketing, thương hiệu… nhưng lại bỏ qua trải nghiệm di chuyển cơ bản của khách. Trong khi đây mới là điểm quyết định khách có bước vào hay không.Nếu nhìn sâu hơn, Vào – Đỗ – Ra không phải chuyện kỹ thuật giao thông. Nó là câu chuyện hành vi con người.

Khách luôn chọn sự dễ dàng. Và cửa hàng nào làm cho việc ghé vào trở nên tự nhiên nhất thì cửa hàng đó thắng.

Nếu bạn đang chuẩn bị mở cửa hàng, hoặc đang phân vân giữa nhiều lựa chọn, đôi khi điều cần nhất không phải là đi xem thêm mặt bằng… mà là quay lại nhìn đúng 3 thứ “cơ bản nhưng quyết định” này: Vào được – Đỗ được – Ra được.Vì cuối cùng, khách không bước vào cửa hàng bằng… cảm tình. Khách bước vào bằng một quyết định trong vài giây: “ghé có dễ không, có phiền không, có an toàn không?”

Nếu bạn muốn mình đồng hành cùng bạn để soi mặt bằng theo đúng logic hành vi (chứ không chỉ “đẹp – đông – rẻ”), mình có chương trình Huấn luyện & Đồng hành mở điểm: cùng ngồi chốt công thức chọn điểm, đi khảo sát thực địa, và ra quyết định ký/không ký dựa trên rủi ro thật sự. Ai cần thì nhắn mình chữ “MỞ ĐIỂM”, mình gửi checklist kiểm tra mặt bằng.

Nguồn hình: Highlands Coffee

Minh Phan – Chọn đúng mặt bằng